Monday, August 19, 2013

Tàu chiến ngầm HQ-184 Hải Phòng

  Tàu chiến ngầm HQ-184 tự hào mang tên Hải Phòng   

 Đến nay, cả sáu tàu lặn Kilo Việt Nam đang đặt Nga đóng đều đã được đặt tên theo 6 địa danh: Hà Nội, Hải Phòng, TP.HCM, Đà Nẵng, Khánh Hòa và Bà Rịa Vũng Tàu. Trong khi đó, hai soái hạm Gerpard 3.9 được đặt tên theo hai vị hoàng đế: Đinh Tiên Hoàng và Lý Thái Tổ. Vậy việc đặt tên tàu chiến trên thế giới được đặt theo lệ luật nào?  

 

Cho đến trước khi 6 con khủng nói trên được định danh, các tàu chiến trong biên chế Hải bộ đội dân Việt Nam thường được đặt theo ký hiệu, bắt đầu bằng hai chứ số HQ…, tiếp đến là các số hiệu. Thí dụ, HQ-505.

  1.  Tuy nhiên, việc đặt tên theo danh từ riêng đã từng được chính quyền Sài Gòn trước đây ứng dụng cho từng lớp, loại tàu chiến. Chả hạn, các khu trục hạm, tuần dương hạm (theo cách tự phong) đặt theo tên các danh tướng, đặc biệt là các danh tướng đời Trần: Như khu trục hạm Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư; Tuần dương hạm Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão… và một số danh tướng đời trước như tuần dương hạm Lý Thường Kiệt, tuần dương hạm Ngô Quyền.

Các hộ tống hạm được đặt theo các địa danh là nơi diễn ra các trận đánh lẫy lừng trong lịch sử, như: hộ vệ hạm Chi Lăng, Chi Lăng, Hà Hồi, Ngọc Hồi, Vạn Kiếp, Nhật Tảo…

Các tàu tuần duyên được đặt tên các hòn đảo. Tỉ dụ tuần duyên hạm Hoàng Sa, Phú Quý, Tô Châu, Phù Du, thanh bình, Trường Sa, Duyên hải, Hòn Trọc, Nam Du, kiến lửa, Kéo ngựa (Kiệu ngựa?)…

Các tàu (xuồng) tuần duyên được đặt tên các cá nhân; một số chiếc được đặt theo các chận đánh như Tây Kết, Tụy Động, Vân Đồn, Vạn Kiếp…

Các hải vận hạm (LSM) được đặt theo tên các con sông như: Hát giang, Lam giang, Ninh giang, Hương giang, Tiền giang, Hậu giang…

Các tàu vận chuyển quân sự (LST) được đặt theo các cảng biển: Cam Ranh, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Thị Nại, Quy Nhơn, Nha Trang.

Các tàu trợ chiến (logitics support được đặt theo) tên các địa danh (Mỹ Tho, Cần Thơ, Vĩnh Long).

  tàu lặn Kilo Hà Nội  

  2.  Gần đây, đình đám nhất là con hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc. Ban đầu, chiếc tàu này được đặt tên theo một danh tướng (Shi Lang). Tháng 7 năm ngoái, Trung Quốc đã dự định đặt tên mới cho hàng không mẫu hạm này, trong khi ý kiến trong nhân dân muốn tàu mang tên Mao Trạch Đông, Bắc Kinh hoặc Thi Lang...

Ông La Viện - Phó Tổng thư ký Hội Khoa học quân sự Trung Quốc và Phó Chủ tịch Hội đồng thúc đẩy văn hóa chiến lược Trung Quốc - từng nêu ý đặt tên tàu là Điếu Ngư để “nhấn mạnh ý kiến về chủ quyền” với quần đảo tranh chấp với Nhật Bản.

Nhưng chung cuộc được đặt theo tên một địa phương – Liêu Ninh. Như vậy, từ nay về sau, các tàu sân bay Trung Quốc được đặt tên theo tên các tỉnh.

Tên của các tàu hải quân ở Trung Quốc thường được đặt theo quy luật khăng khăng. Tàu kì cọ đặt tên theo tỉnh hành chính hoặc khu tự trị; tàu khu trục và tàu chiến đặt tên thành phố theo kích cỡ từ lớn đến vừa; tàu lặn đặt theo tên các huyện lỵ; tàu tiếp nhiên liệu theo tên hồ; tàu đổ bộ theo tên núi, tàu rà phá mìn theo tên khu tự trị, còn tàu đổ bộ bộ binh theo tên sông. Các lớp (Type) tàu ngầm lại được đặt theo các triều đại phong Kiến, Ví dụ lớp Hán, lớp Hạ, lớp Thương…

  3.  Mỹ là lực lượng Hải quân có hàng ngũ tàu chiến hùng hậu nhất thế giới cũng có cách đặt tên riêng.

Theo truyền thống, tên gọi cho tàu của Hải quân sẽ được Bộ trưởng Hải quân Mỹ chọn lựa và ban bố, dưới sự chỉ đạo của Tổng thống và các lệ luật do Quốc hội đề ra.

Trong suốt thế kỷ 19, luật pháp Mỹ chỉ định rất rõ ràng nhiệm vụ này cho Bộ trưởng Hải quân, nhưng dẫn chiếu này đã biến mất từ Đạo Luật Mỹ năm 1925.
Ngày nay, trong Chương 10 Đạo Luật Mỹ (U.S.C 10), quy định về vai trò, nhiệm vụ và tổ chức của các đơn vị thuộc Bộ Quốc Phòng, không nói rõ về việc ai có thẩm quyền đặt tên mới cho tàu Hải quân.

Tuy nhiên, Bộ trưởng Hải quân vẫn nhất quyết bảo lưu quyền tuyệt đối này, dù trong điều 7292 Chương 10 về đặt tên tàu của Hải quân, chỉ nói đến việc Bộ trưởng Hải quân được đổi tên những tàu mua cho Hải quân.

Trong quá trình đàm đạo việc chọn lọc tên, Hải quân Mỹ trích dẫn từ các nguồn luật trên và tuyên bố như sau:

&Ldquo;Cùng nhiều vấn đề khác, quy trình và thực tại liên can đến việc đặt tên tàu thực sự là sản phẩm của tiến hóa và truyền thông hơn là quy trình lập pháp. Như chúng ta đã thấy, những tên gọi cho những con tàu mới được quyết định riêng bởi Bộ trưởng Hải quân. Thư ký có thể dựa trên nhiều cơ sở để đưa ra quyết định rút cuộc.

Mỗi năm, Trung tâm Lịch sử Hải quân sưu tập những gợi ý về tên tàu (tên chính và lựa chọn thay thế), gửi cho Tư lệnh Hải quân.

Những gợi ý này là kết quả của việc trên dưới trong lịch sử của Hải quân và các gợi ý của các thành viên, cựu chiến binh và công chúng.

Các bản ghi tên tàu tại Trung tâm Lịch sử Hải quân đề đạt những nguồn tên phong phú đã từng được dùng trong kí vãng, đặc biệt là từ sau Thế chiến thứ I.

Những gợi ý về tên gọi của tàu do nhiều yếu tố quy định, như tên các nhóm cho từng loại tàu đang được đóng, tên theo địa lý, tên từ những con tàu trước, tên do cá nhân, nhóm gợi ý, tên những vị lãnh đạo hải quân, thành viên kí vãng nhưng được vinh danh về chiến tích trong thời chiến và thời bình.

Tại bước cuối, sau khi cân nhắc các mức độ khác nhau của chỉ thị, Tư lệnh Hải quân sẽ ký bản ghi nhớ những cái tên cho chương trình đóng tàu năm đó, gửi tới Bộ trưởng Hải quân.

Trên cơ sở đó, vị thư ký này cân nhắc trong thời kì hạp để chọn tên cho những con tàu biệt lập và ban bố chúng. Dù vậy, việc đặt tên này thường hoàn thành trước khi con tàu được đặt tên thánh.

Luật lệ đặt những cái tên riêng cho từng loại tàu Hải quân đã phát triển qua thời kì. Tỉ dụ, đối với tàu ngầm tiến công, từng được đặt tên theo các loài cá, sau đó là tỉnh thành và gần đây là theo các bang. Trong khi, các tàu tuần dương, lúc đầu đặt tên theo thị thành, dần dần theo bang và gần đây là theo các trận đánh.

Phát ngôn của Hải quân Mỹ từng tuyên bố: “Dù chúng tôi đã rứa hệ thống hóa việc đặt tên tàu, nhưng giống như các thiết chế khác là đối tượng của sự thay đổi tiến hóa, nguồn và tên gọi cho tàu Hải quân không tránh được khuynh hướng này”.

Tuy nhiên, không phải là không có ngoại lệ. Nhiều nhà quan sát đã nhận thấy sự phá cách trong việc đặt tên. Ví thử như 3 chiếc tàu ngầm tiến công thuộc lớp Seawolf (SSN-21), bao gồm Seawolf (SSN-21), Connecticut (SSN-22) và Jimmy Carter (SSN-23). Các tên gọi tương ứng tuần tự với một loài cá, một bang và một Tổng thống, diễn đạt cách đặt tên chẳng có nguyên tắc gì cả.

  Tuy nhiên, có thể tổng kết cách đặt tên cho các loại tàu do Hải quân như sau:  

Hàng không mẫu hạm: đặt tên theo các vị Tổng thống Mỹ. 11 trong số 12 hàng không mẫu hạm gần đây đặt tên theo Tổng thống Mỹ (9 chiếc) và thành viên của Quốc hội (2 chiếc).

Chỉ có chiếc thứ 12, gần đây nhất, Nimitz (CVN-68) đặt theo tên của vị Đô đốc Chester Nimitz, người chỉ huy Mỹ và liên quân ở Thái Bình Dương trong Thế chiến II. Ông mất vào năm 1966, cùng năm với việc Quốc Hội duyệt kế hoạch ngân sách FY1967, mang về chiếc CVN-68.

Tàu lặn tấn công: đặt tên theo các bang, Ví dụ như tàu lặn lớp Virginia (SSN-774). Chỉ có ngoại lệ độc nhất vô nhị đối với chiếc tàu thứ 12 trong lớp này, khi Bộ trưởng Hải quân Donald Winter thông báo chiếc SSN-785 đặt tên cựu Thượng nghị sĩ John Warner.

Tàu khu trục thường được đặt tên theo các vị lãnh đạo hải quân và những vị anh hùng.

  Tường Bách  

 

 

No comments:

Post a Comment